Bên cạnh chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), một chỉ số quan trọng khác cho thấy niềm tin, động thái kinh doanh của doanh nghiệp là VBIS

Bên cạnh chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) do cộng đồng doanh nghiệp bình xét hằng năm về môi trường kinh doanh của các địa phương, một chỉ số quan trọng khác cho thấy niềm tin, động thái kinh doanh của doanh nghiệp là VBIS

Chỉ số động thái (CSĐT) được tính bằng cách lấy tỷ lệ DN có đánh giá (cảm nhận) “tình hình tốt lên” trừ đi tỷ lệ DN có đánh giá (cảm nhận) “tình hình xấu đi”. Chỉ số này dương phản ánh xu thế được cải thiện.

Ngược lại, chỉ số này âm cho biết tình hình xấu đi. Nếu chỉ số này bằng không, tình hình được coi là không thay đổi. Giá trị tuyệt đối của CSĐT cho thấy mức độ cải thiện hay giảm sút của tiêu chí khảo sát.

Trong phân tích này, ta xem xét ba loại CSĐT: CSĐT Thực thấy (VBiSO), CSĐT Dự cảm (VBiSE) và CSĐT Tổng hợp (VBiSI).

Dưới đây là biểu đồ về CSĐT tình hình tài chính kinh doanh của DN quý III và quý IV/2012. Biểu đồ cho thấy DN vẫn đang có những thay đổi hết sức chậm chạp dù đang bước vào quý cuối năm. Thời điểm sản xuất được thúc đẩy mạnh.


Chỉ số động thái tổng hợp quý III/2012



CSĐT thực thấy quý III/2012 và CSĐT dự cảm quý IV/2012

Biểu đồ cho thấy rằng tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đang có chiều hướng xấu đi. Động thái này là tổng hợp của mức xấu đi thực thấy ở quí III năm 2012 (CSĐT thực thấy là -29 điểm) và mức xấu đi dự cảm cho quí IV năm 2012 (CSĐT dự cảm là -11 điểm) .

Tuy vậy, CSĐT dự cảm lớn hơn so với CSĐT thực thấy chỉ ra rằng mức độ xấu đi của quý IV so với quý III/2012 nhỏ hơn mức độ xấu đi của quý III so với quý II.
Hầu hết các chỉ số thành phần liên quan đến động thái tổng thể của tình hình sản xuất kinh doanh đều có xu hướng giảm nhưng chậm, chỉ ra mức độ lạc quan nhất định nhưng không nhiều của doanh nghiệp đối với của tình hình sản xuất kinh doanh.

Mức lợi nhuận bình quân trên một đơn vị sản phẩm có xu hướng giảm mạnh nhất trong các chỉ tiêu đánh giá kết quả tình hình sản xuất kinh doanh. Xu thế giảm mạnh lợi nhuận là nguyên chính gây lên sự ảm đạm của CSĐT tổng hợp của tình hình sản xuất kinh doanh quý III.

Số lượng công nhân viên có xu hướng giảm trong quý III. Nguyên nhân gây ra xu hướng giảm này là trong bối cảnh kinh tế khó khăn, tình trạng đình đốn sản xuất dẫn đến nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành giảm. Tuy nhiên mức dự cảm tăng lên ở quý IV cho thấy có thể một số doanh nghiệp sẽ trở lại sản xuất kinh doanh sau thời gian tạm ngưng hoặc tăng mức sản xuất đòi hỏi doanh nghiệp tuyển dụng nhiều lao động hơn. Điều này cho thấy một dấu hiệu khả hơn vào quý IV về số lượng công ăn việc làm được tạo ra.

Giá bán bình quân có xu hướng giảm và được dự cảm có xu hướng giảm chậm lại vào quý IV so với thực thấy ở quý III.

Giá thành trên một đơn vị sản phẩm có xu hướng tăng lên, dự cảm quý IV sẽ tăng lên nhiều hơn so với quý III.

Về sản phẩm tồn kho, hàng tồn kho quý III được đánh giá là giảm so với quý II. Tuy nhiên quý IV được dự cảm sẽ tăng lên so với quý III.

Có hai chỉ tiêu là tổng doanh số và năng suất lao động bình quân được dự cảm sẽ được cải thiện trong quý IV. Tuy vậy, chỉ dừng lại ở mức độ tăng nhẹ.

Nguyên nhân dẫn đến kết quả này có thể là nhờ nỗ lực trong việc thực hiện các biện pháp giải phóng hàng tồn kho trong thời gian qua ở các doanh nghiệp như: giảm giá bán, quảng cáo khuyến mại và ở phạm vi chính phủ như tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại, hạn chế nhập khẩu các mặt hàng không cần thiết.

Năng suất lao động bình quân có xu hướng được cải thiện. Xu hướng cải thiện này có thể là kết quả của việc các doanh nghiệp đã sát sao, chặt chẽ hơn trong việc quản lý hiệu quả làm việc cán bộ công nhân viên trong thời kỳ khó khăn, hoặc có thể là do doanh nghiệp giảm số lượng lao động do kinh doanh khó khăn nên doanh nghiệp chỉ giữ lại những lao động có tay nghề và làm việc hiệu quả, sa thải những lao động không có tay nghề hay làm việc không hiệu quả.

Theo TTVN


Hot!


Các bài khác cùng chuyên mục: